 |
Nguồn: Lindliz Luong
[Bài thuyết trình môn kinh tế vĩ mô của nhóm mình,các bạn có thể tham khảo]
I/Một số khái niệm:
a. Chính sách lưu thông tiền tệ: là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối
b. Các công cụ của chính sách tiền tệ:
- Công cụ tái cấp vốn
- Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.
- Công cụ lãi suất tín dụng
- Công cụ hạn mức tín dụng
- Tỷ giá hối đoái
Cơ quan hữu trách về tiền tệ sử dụng chính sách tiền tệ nhằm hai mục đích: ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái.
Về ổn định kinh tế vĩ mô, nguyên lý hoạt động chung của chính sách tiền tệ là cơ quan hữu trách về tiền tệ (ngân hàng trung ương hay cục tiền tệ) sẽ thay đổi lượng cung tiền tệ. Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường mở.
c. Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
II.Các chế độ tỷ giá :
*Tỷ giá hối đoái cố định:đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi.
*Tỷ giá hối đoái linh hoạt:Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nó quá bất ổn định. Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường.
III.Hệ thống chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà nước điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu sau:
- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suất trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung ngoại hối do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại.
- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trường kéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại. Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối thực hiện phương pháp này.
- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhà nước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng thẳng.
- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống.
IV.Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
1. Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ
Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và nguyên tắc một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại
2. Cán cân thanh toán quốc tế
Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong những yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá. Đánh giá chung có tính chất truyền thống đối với sự biến động của TGHĐ, các nhà kinh tế đều cho rằng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ quốc gia là những nhân tố cơ bản đứng sau lưng tăng giá TGHĐ.
Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối do vậy, tác động trực tiếp đến TGHĐ.
3. Yếu tố tâm lý
Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước và tình hình thế giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh ngoại hối bao gồm các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và kể cả người đầu cơ tùy theo sự phán đoán đó mà hành động.
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường tài chính, trong đó có thị trường hối đoái. Tuy nhiên những biến động này bao giờ cũng mang tính chất ngắn hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn.
4. Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương
Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do đó vai trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng. NHTW tự biến mình thành một bộ phận của thị trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người mua lúc khác là tư cách người bán, nhằm tác động về phía cung hay cầu của quỹ ngoại hối thị trường nhằm cho ra một tỷ giá phù hợp như ý đồ của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên điều kiện vật chất để có thể can thiệp là thực lực về tiềm năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự trữ quốc gia.
5. Năng suất lao động
Nếu năng suất lao động trong nước có sự gia tăng sẽ làm cho mức giá tương đối có xu hướng sụt giảm làm đồng ngoại tệ có xu hướng giảm hay đồng nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm xuống.
V.Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế
1. Đối với cán cân thanh toán
Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó. Khi TGHĐ tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước của hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó, cải thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Các nguồn lực sẽ được thu hút vào những ngành sản xuất mà giờ đây có thể cạnh tranh hiệu quả hơn so với hàng nhâp khẩu và cũng vào ngành xuất khẩu mà giờ đây có thể có hiệu quả hơn trên các thị trường quốc tế. Kết quả là xuất khẩu tăng nhập khẩu giảm làm cán cân thanh toán được cải thiện.
2. Với lạm phát và lãi xuất
Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ. Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập khẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá. Kết quả mức giá chung trong nền kinh tế trở nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm có nghĩa là lạm phát đã tăng. Nếu lãi xuất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi xuất tăng làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế giảm sút.
3. Với sản lượng và việc làm
Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi TGHĐ tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên và ngược lại.
4. Đối với đầu tư quốc tế
- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh. Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức. Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài. Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tại hay không.
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế cũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường.
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổng lợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện tượng luồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ vào trong nước.
Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảm mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
5. Với nợ nước ngoài
Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang phát triển càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài.
VI.Tình trạng tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong những năm gần đây:
1.Đối với thị trường ngoại tệ và nội tệ:
Những thay đổi chính sách tỷ giá vừa qua, có thể đem lại những tác dụng tức thời nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, nhưng sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường bằng quyết định hành chính sẽ để lại cho xã hội tâm lí bất an khi sở hữu đồng nội tệ.Trong một thời gian ngắn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi mạnh tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Lần thay đổi thứ nhất vào ngày 26/11/2009, tỷ lệ phá giá là 5,44%, đồng thời NHNN thu hẹp biên độ biên độ giao động của tỷ giá từ 5% xuống 3%. Lần thay đổi thứ hai, chỉ cách lần thứ nhất chưa đầy 2 tháng, vào ngày 11/2/2010 tỷ giá VND/USD tăng thêm 3,36%.
2. Chống lạm phát bằng chính sách tỷ giá:
Thực tế lạm phát của Việt Nam trong 3 năm 2007-2009 là trên 40%, trong khi lạm phát của Mỹ, cùng thời kỳ, chỉ khoảng trên dưới 20%. Nhưng cùng thời gian đó, tỷ giá chính thức USD/VND dường như thay đổi không đáng kể, khiến VND bị định giá cao ngay trong tương quan tỷ giá với USD. Vì vậy, sự điều chỉnh tỷ giá vừa qua là cần thiết, bất chấp động thái này có vẻ như ngược lại với xu hướng mất giá chung của USD trên thị trường thế giới. Linh hoạt tỷ giá, ngày càng trở thành phương châm hành xử phổ biến trong chính sách tỷ giá của hơn ¾ số nước trên thế giới hiện nay.
Lạm phát năm 2007 vượt mức hơn 12%/năm, chỉ số giá tiêu dùng chỉ trong 2 tháng đầu năm đã phi mã tới hơn 6% so với cuối năm ngoái. Kiểm soát lạm phát hiện nay là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Khống chế được lạm phát cao sẽ giúp ổn định Kinh tế Xã hội và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang lúng túng đối phó và chưa tìm ra lời giải với bài toán lượng lớn vốn nước ngoài khi lạm phát leo thang trong chế độ tỷ giá neo. Thời gian vừa qua do sức ép của lạm phát NHNN tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ, các Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) thiếu thanh khoản, nguy cơ khủng hoảng thanh khoản xảy ra, NHNN tiến thoái lưỡng nan
Ngoài một số nguyên nhân nội tại như thiên tai, đầu tư tràn lan một số công trình công không hiệu quả, nguyên nhân chính gây lạm phát cao tại Việt Nam là do bất cập trong định hướng chính sách đối ứng, cụ thể là chính sách tỷ giá, đối với những cú sốc ngoại lai. Định hướng chính sách tỷ giá không phù hợp so với biến động của kinh tế thế giới dẫn đến kết quả là: 1. Lượng cung tiền tăng đột biến, 2. Chi phí cho sản xuất trong nước tăng cao. Đây là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới lạm phát cao tại
Việc NHNN liên tục nới rộng tỷ giá VND/USD có những tác động đa chiều đến các chủ thể kinh tế và các biến số kinh tế vĩ mô
3.Đối với tình hình xuất nhập khẩu
Trước khi NHNN nới rộng tỷ giá, có nhiều quan điểm cho rằng đồng Việt Nam hiện đang được định giá cao hơn so với đồng USD sẽ làm cho hàng hoá của Việt Nam kém cạnh tranh hơn với hàng nhập khẩu, một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng nhập siêu.
Về cơ bản, nếu tính cho một rổ tiền tệ thì tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi có xuất khẩu hơn là nhập khẩu. Tỷ giá, lãi suất và tác động tới hoạt động xuất khẩu
Về mặt lý thuyết, việc phá giá đồng nội tệ sẽ giúp cho hàng hoá nước đó có sức cạnh tranh tốt hơn hàng của nước ngoài, điều này sẽ hỗ trợ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu bằng việc sử dụng hàng nội địa có giá thấp hơn.
Thời gian gần đây, các vụ kiện chống bán phá giá hàng Việt Nam trên một số thị trường xuất khẩu chủ yếu đang rộ lên và việc điều chỉnh tỷ giá (chỉ nâng mà không giảm) liên tục sẽ có khả năng tạo "cớ" cho các đối thủ cạnh tranh vận động hành lang cho các vụ kiện, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đang có xu hướng bảo vệ kinh tế và việc làm nội địa bằng các chính sách bảo hộ phi thuế quan khác nhau
Trong tháng 1-2/2010 tình hình nhập siêu đã khả quan hơn so với cùng kỳ năm 2009
Xuất khẩu 3 tháng đầu năm ước đạt khoảng xấp xỉ 13 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kì năm 2007 nhưng nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của hai tháng đầu năm là 29% thì tốc độ xuất khẩu của tháng 3 lại bị suy giảm đáng kể.
(Thống kê của Bộ Công thương)
Trong mấy năm trước đây, trong xu hướng tự do hoá dòng vốn, chúng ta vẫn duy trì được tỷ giá hối đoái gần như cố định với mức giảm giá của VND so với đồng USD vào khoảng xấp xỉ 1%/năm; đồng thời giữ được mức lạm phát trong tầm kiểm soát.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào Việt Nam gia tăng mạnh và đã có những tác động rõ rệt đối với nền kinh tế, đặc biệt là khi USD mất giá so với VND và lãi suất tăng cao đã gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất khẩu.
Trong 3 tháng đầu năm, nhập khẩu đạt 20,6 tỷ USD, tăng 60,7% so với cùng kỳ năm 2007; nhập siêu trong 3 tháng đạt 7,5 tỷ USD và bằng 57% kim ngạch xuất khẩu.
(Thống kê của Bộ Công thương)
Trong khi đó, một điều đáng lo ngại nữa là tốc nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh.
Tình hình đó khiến sản xuất trong nước có nguy cơ bị đình trệ và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Về nguyên lý, tỷ giá hối đoái có tác dụng hai mặt: Một mặt, nó có thể ảnh hưởng tích cực đến xuất nhập khẩu, nhưng mặt khác lại ảnh hưởng xấu đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Do đó, cần phải điều tiết sự thay đổi tỷ giá sao cho hợp lý để có thể vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất - kinh doanh, tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; vừa đảm bảo phục vụ cho tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát.
Thực tế cho thấy, thâm hụt thương mại lớn thường xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: Một là, đồng nội tệ lên giá dẫn dến khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.Hai là, luồng vốn nước ngoài đổ vào nhiều, cung tiền tăng nhanh kéo theo cầu hàng hoá tăng trong khi cung hàng hoá trong nước không đáp ứng được dẫn đến áp lực buộc phải nhập khẩu.
Tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi cho xuất khẩu hay nhập khẩu?
- Nếu lấy năm 2000 làm gốc thì tỷ giá hối đoái VND/USD danh nghĩa tăng 13,7% (tức là VND giảm giá 13,7%), trong khi tỷ giá hối đoái thực giảm còn 93,9% (nghĩa là trên thực tế, VND đang tăng giá khoảng 6,1% so với USD).
Lý do là mặc dù tỷ giá danh nghĩa tăng nhưng lạm phát của Việt Nam từ năm 2004 đến nay cao hơn nhiều với lạm phát của Mỹ. Điều này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đang ở thế bất lợi, mặc dầu tăng về kim ngạch nhưng lợi nhuận lại giảm dần;
- Tuy nhiên, nếu chúng ta tính cho một rổ tiền tệ gồm 19 đồng tiền (kể cả USD), tức là tính tỷ giá hối đoái thực hiệu quả (real effective), thì kết quả có vẻ khác: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa của VND so với rổ tiền tệ tăng 20% và tỷ giá thực hiệu quả tăng 11,9%; điều này có nghĩa là trên thực tế VND đang mất giá so với rổ tiền tệ 11,9%.
Lý do là VND gắn với USD trong khi đồng tiền này mất giá mạnh so với nhiều đồng tiền khác. Ví dụ, từ năm 2002 đến nay, USD đã mất giá khoảng 16% so với Franc Thuỵ Sĩ, khoảng 22% so với Bảng Anh, khoảng 25% so với Đô- la Úc và khoảng trên 45% so với Euro.
Như vậy, về cơ bản, nếu tính cho một rổ tiền tệ thì tỷ giá hối đoái hiện nay đang có lợi có xuất khẩu hơn là nhập khẩu.
Kết luận này có vẻ ngược lại với thực tế đang diễn ra, cụ thể là thâm hụt thương mại đang tăng lên.
Các biện pháp thắt chặt tiền tệ trong quý I/2008 của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá tiêu dùng đã bước đầu phát huy tác dụng nhưng cũng khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan do không huy động vốn để đầu tư, trong khi giá nguyên vật liệu và chi phí nhân công tăng cao.
Điều đó có thể được lý giải bằng hai cách: Hoặc là, do xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu thanh toán bằng USD, trong đó rủi ro hối đoái hoàn toàn do phía doanh nghiệp Việt Nam gánh chịu; vì vậy, độ co giãn của nhập khẩu với tỷ giá hối đoái rất thấp, nhất là nguyên liệu thô và khoáng sản.
Hoặc là, luồng vốn nước ngoài (bao gồm đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp, ODA, kiều hối, tín dụng thương mại,…) đổ vào quá lớn đã làm tăng cung tiền, dẫn đến tăng nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là đối với hàng tiêu dùng trong khi hàng rào thuế quan đã giảm đáng kể.
Trở lại Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 dự kiến tăng 22% so với năm 2007, đạt 58,6 tỷ USD, tăng khoảng 10 tỷ USD so với năm 2007.
Trong bối cảnh tỷ giá hối đoái VND/USD và lãi suất có những biến động bất lợi cho xuất khẩu, để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đề ra, cần phải có những giải pháp kịp thời nhằm tháo gỡ và chia sẻ những khó khăn với các doanh nghiệp xuất khẩu.
4. Đối với nợ nước ngoài: Gánh nặng thuộc về doanh nghiệp
-Việc nới lỏng tỷ giá vừa qua đã khiến các doanh nghiệp có các khoản vay bằng ngoại tệ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí có nhiều doanh nghiệp lợi nhuận làm ra cả năm không đủ bù đắp khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ của mình, mà đôi khi, vấn đề này còn phụ thuộc vào chế độ hạch toán kế toán. Tiêu biểu cho trường hợp này là Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại trong năm 2008-2009: Công ty đã phải trích lập quỹ dự phòng do trượt tỷ giá giữa đồng Yên (Nhật Bản) với Đồng Việt Nam với giá trị vượt 30% so với lợi nhuận sản xuất kinh doanh cả năm 2008.
Theo các chuyên gia kinh tế, cách điều hành tỷ giá, chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước hơi bảo thủ, cứng nhắc; việc minh bạch thông tin cũng không được thực hiện tốt…
Cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có các biện pháp điểu chỉnh tỷ giá hối đoái để rút ngắn khoảng cách thị trường tự do và thị trường chính thức. Thế nhưng, tỷ giá trên thị trường tự do đã tăng vọt, lên đến gần 19.000 đồng/USD. Theo các chuyên gia kinh tế, thực tế này phản ánh cung cầu về ngoại hối gặp vấn đề, xuất phát từ cán cân thanh toán chung.
VIII.GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
1. Chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt và theo hướng thị trường hơn.
Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập, việc cam kết thực hiện các điều kiện của tự do hóa thương mại đòi hỏi phi cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, cùng với sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khi tham gia vào thị trường quốc tế, các nhà sản xuất của Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh mãnh liệt từ các nhà cung ứng nước ngoài. Với tư cách là nước đi sau, mới tham gia vào thị trường quốc tế, nhiều doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ phá sản nếu như không có một sự bảo hộ cần thiết để thích ứng dần với điều kiện mới. Do vậy, tỷ giá phải được điều chỉnh để phát huy vai trò tích cực trong việc bảo hộ một cách hợp lý các doanh nghiệp trong nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các chính sách nói chung và chính sách tỷ giá nói riêng phải điều chỉnh linh hoạt thích ứng với môi trường quốc tế thường xuyên thay đổi, giảm thiểu các cú sốc bất lợi bên ngoài tác động đến nền kinh tế nội địa, đồng thời hướng tới một tỷ giá thị trường, là sản phẩm của quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Việc tăng tính linh hoạt của tỷ giá sẽ giúp đối phó được với các cú sốc từ bên ngoài và có được sự kiểm soát tốt hơn đối với các điều kiện tiền tệ trong nước. Quan điểm chung trong việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái là cần phải đẩy mạnh quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái, tiến tới tỷ giá hối đoái sẽ phải do thị trường quyết định. Thay vì sử dụng các công cụ, biện pháp hành chính như trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, trong thời gian tới, Chính phủ phải chủ yếu sử dụng các công cụ, các cơ chế gián tiếp để điều tiết thị trường ngoại hối. Nhà nước cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết (dự trữ ngoại hối, pháp lý…) và xác định rõ mục tiêu điều chỉnh tỷ giá hối đoái để có những công cụ hoặc biện pháp điều tiết hữu hiệu, can thiệp đúng lúc.
2. Chính sách tỷ giá Việt Nam điều chỉnh theo hướng tách rời sự neo buộc vào đồng USD.
Hiện nay, NHNN Việt Nam thông báo tỷ giá USD/VND một ngày một lần, còn đối với hơn 20 loại ngoại tệ khác thì thông báo 10 ngày một lần và được tính chéo qua USD. Điều này chứng tỏ đồng Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào đồng Đôla Mỹ.
Việc đồng Việt Nam neo vào đồng đôla Mỹ có thuận lợi vì đồng đôla Mỹ là một trong những đồng tiền chủ yếu sử dụng trong thanh toán quốc tế, do đó làm đơn giản hoá việc xác định tỷ giá đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác. Điều này có tác dụng tích cực khi giá trị đồng đôla Mỹ ổn định trên thị trường tài chính quốc tế. Tuy nhiên, không phải lúc nào đồng đôla Mỹ cũng ổn định. Do sự phụ thuộc như vậy nên chỉ cần đồng đôla Mỹ lên giá so với các ngoại tệ khác thì đồng Việt Nam cũng lên giá theo, dẫn đến giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, góp phần làm cho cán cân tài khoản vãng lai bị thâm hụt lớn.
NHNN nên xác định cơ cấu “rổ” ngoại tệ để xác định tỷ giá VND với các ngoại tệ khác khách quan hơn, tránh sự lệ thuộc vào USD; tiến tới xác định và công bố tỷ giá trung bình của VND với cả rổ ngoại tê.
3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng nhà nước trên thị trường ngoại hối.
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng cơ chế quản lý tỷ giá mới của Ngân hàng nhà nước mà thị trường ngoại hối Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Sự thành công của cơ chế mới thể hiện ở tỷ giá USD/VNĐ, cả trên thị trường chính thức và thị trường tự do đã đạt đến trạng thái ổn định, ít biến động. Tình hình đó đã tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, kiềm chế lạm phát… NHNN đã có những can thiệp đúng lúc và hiệu quả, có thể nói là đã có vai trò lớn trong việc bình ổn thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, vẫn còn có những rào cản cứng nhắc, những văn bản pháp quy về điều hành tỷ giá chưa phù hợp, chồng chéo, NHNN vẫn cần phải có những thay đổi tích cực hơn nữa tiến tới một cơ chế TGHĐ linh hoạt, theo hướng thị trường. Cụ thể về các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHNN như sau:
+ NHNN tiếp tục và nhất quán thực hiện chủ trương điều hành tỷ giá linh hoạt, theo hướng thị trường, chủ động can thiệp khi cần thiết.
Với vai trò là NHTW, hiện nay NHNN quản lý thị trường ngoại tệ chủ yếu thông qua can thiệp mua bán, công bố tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng, quy định trần tỷ giá giao ngay, tỷ lệ % gia tăng của tỷ giá kỳ hạn và các biện pháp quản lý ngoại hối. Trong giai đoạn trước mắt thì các biện pháp này còn cần thiết, nhưng cần phải nới lỏng từng bước vì các biện pháp này không phải lúc nào cũng hiệu quả, đôi khi lại trở thành lực cản cho sự phát triển thị trường ngoại hối. Nhà nước không thể thay được vai trò của thị trường ngoại hối trong xu thế hội nhập, mà Nhà nước chỉ can thiệp bằng các công cụ, nghiệp vụ của mình, tránh xảy ra các cú sốc cho nền kinh tế.
+ Việc can thiệp của NHNN cần phải diễn ra kịp thời với quy mô thích hợp.
Sự can thiệp của NHTW không thể tạo ra những thay đổi lâu dài về mức tỷ giá hối đoái khi các mức mục tiêu không phù hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô. Do vậy, NHNN phải xác định rõ ràng, chính xác mục tiêu của việc can thiệp, đồng thời phải xác định thời gian và mức độ can thiệp tuân theo các quy định chung. Một khi NHNN không tiến hành can thiệp hoặc can thiệp diễn ra chậm hoặc quy mô không thích hợp sẽ làm phá sinh tâm lý rụt rè ngóng đợi, khiến cho thị trường rơi vào tình trạng trầm lắng, kích thích đầu cơ và gây áp lực lên tỷ giá. NHNN có những tác động lớn đến thị trường ngoại hối. Vì vậy, nếu có những điều chỉnh khôn ngoan thì sẽ ảnh hưởng tích cực để thị trường tiếp tục hoạt động thông suốt và hiệu quả.
+ Nâng cao tính minh bạch trong các chính sách can thiệp của NHNN.
Sự minh bạch này giúp tạo lòng tin vào cơ chế tỷ giá mới. Việc cam kết công khai về mục tiêu hành động, can thiệp sẽ tạo điều kiện cho thị trường có khả năng giám sát và đồng thời nâng cao trách nhiệm của NHNN trong hoạt động ngoại hối.
4. Hoàn thiện thị trường ngoại hối.
Việt Nam đã thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt và sự can thiệp của NHNN đóng vai trò thiết yếu. Liên quan chặt chẽ đến vấn đề này là việc phát triển thị trường ngoại hối. Một thị trường ngoại hối có khả năng thanh khoản cao và hoạt động có hiệu quả sẽ cho phép tỷ giá đáp ứng tín hiệu của thị trường, giảm thiểu các rủi ro tỷ giá. Do vậy, chính sách quản lý ngoại hối phải được thực hiện nghiêm ngặt, có thể cải cách theo các hướng:
• NHNN cần xây dựng quy chế thông tin, thống kê, hệ thống hoá kịp thời số liệu luồng ngoại tệ ra, vào trong nước, từ đó dự báo về quan hệ cung cầu trên thị trường để làm căn cứ điều hành chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối.
• Quản lý chặt chẽ các khoản vay, nợ nước ngoài, đặc biệt là vay ngắn hạn. Kiểm soát chặt chẽ việc bảo lãnh vay trả chậm của các NHTM cho các doanh nghiệp vay từ nước ngoài. Do dự trữ ngoại hối của NHNN còn mỏng, nên NHNN cần tiếp tục kiên trì các biện pháp thu hút kiều hối: mở rộng đối tượng được uỷ thác, làm dịch vụ chi trả kiều hối…
• NHNN cần từng bước thực hiện cơ chế tự do hoá các giao dịch vãng lai, từng bước tự do hoá các giao dịch vốn, cho phép một số ngân hàng thương mại tiếp tục thực hiện thí điểm một số nghiệp vụ giao dịch hối đoái theo thông lệ quốc tế, nâng cao tính linh hoạt của thị trường ngoại hối .
• Tiến tới hoàn thiện thị trường ngoaị tệ liên ngân hàng với đúng nghĩa là một “thị trường thực sự” làm cơ sở xác định tỷ giá bình quân liên ngân hàng sát với cung- cầu ngoại tệ trên thị trường. Thị trường ngoại tệ LNH là một cơ sở hạ tầng quan trọng để NHNN can thiệp và điều hành tỷ giá, do đó thị trường ngoại tệ LNH phải hoạt động thông suốt, liên tục, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian để tạo điều kiện cho các ngân hàng trong hoạt động mua bán ngoại tệ, qua đó giải quyết nhanh chóng nhu cầu thanh toán ngoại tệ cho các doanh nghiệp. Đồng thời có cơ chế ràng buộc các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia trên thị trường ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình để xây dựng một mô hình thị trường ngoai tệ liên NH hoàn thiện, điều tiết can thiệp mua, bán ngoại tệ nhằm cân đối cung cầu và thực hiện chính sách tỷ giá theo định hướng của Nhà nước.
• Củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên NH với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của nó để tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai khu vực thị trường ngoại tệ và nội tệ một cách thông suốt.
• Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy phù hợp. Các văn bản pháp quy về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối cần được rà soát lại, thống nhất và đơn giản hoá, bãi bỏ những quy định không phù hợp hay chồng chéo. Thông qua cơ chế chính sách, các biện pháp quản lý hành chính của Chính phủ có thể tác động đến hoạt động của thị trường hối đoái, quản lý các nguồn ngoại tệ trôi nổi trên thị trường, chống những hiện tượng đầu cơ, buôn bán trái phép ngoại tệ, góp phần ổn định TGHĐ.
5. Phá giá nhẹ đồng Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang ở tình trạng vừa thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai vừa có tình trạng thất nghiệp cao. Việc đánh giá cao đồng nội tệ sẽ là bất lợi vì đồng nội tệ tăng giá thực tế có nghĩa là hàng Việt Nam trở nên đắt hơn so với hàng ngoại trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Kết quả là nhập khẩu tăng, xuất khẩu bị thu hẹp, cán cân tài khoản vãng lai sẽ ngày càng lún sâu vào thâm hụt. Một chính sách giảm giá nhẹ đồng Việt Nam sẽ có tác dụng tích cực trong việc cải thiện đồng thời cả cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài: khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng việc làm, tăng sn lượng và thu nhập của nền kinh tế trong khi vẫn kiềm chế lạm phát ở mức thấp.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, việc phá giá mạnh đồng nội tệ là không thực tế. Mặc dù phá giá sẽ làm cho hàng hoá trong nước rẻ tương đối so với hàng ngoại, nghĩa là tăng sức cạnh tranh, nhưng nếu phá giá mạnh thì hậu quả để lại là khôn lường. Phá giá mạnh đồng Việt Nam sẽ làm mất lòng tin của dân chúng đối với VND và chính sách tiền tệ của nhà nước, làm giảm đầu tư trong nước, đồng thời chức năng thanh toán và bảo tồn giá trị của đồng tiền có thể bị xói mòn, nguy cơ về một cuộc khủng hoảng rất lớn. Mặt khác, phá giá sẽ gây thiệt hại về kinh tế cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến vay tiền bằng ngoại tệ. Trong điều kiện hiện nay, chính sách phá giá nhẹ đồng Việt Nam hiện nay là thích hợp, không những kích thích tăng trưởng kinh tế mà còn không gây tổn thương cho bất cứ đơn vị kinh tế nào, hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường ngoại hối, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
6. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ.
Hiện nay, ngoài đôla Mỹ, trên thị trường có nhiều loại ngoại tệ có giá trị thanh toán quốc tế như Euro, JPY, CAD, GBP…Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam có thể thực hiện chính sách đa ngoại tệ trong thanh toán quốc tế và điều hành chính sách tỷ giá. Việt Nam cần xây dựng một cơ chế ngoại tệ hợp lý trên cơ sở đa dạng hóa rổ ngoại tệ mạnh, làm căn cứ cho việc ấn định tỷ giá VND. Cơ chế ngoại tệ đa dạng tạo điều kiện cho các NHTM cung ứng bảo hiểm rủi ro về lãi suất, tỷ giá hối đoái, cho phép các ngoại tệ mạnh trên lãnh thổ Việt Nam được tự do chuyển đổi làm cho vai trò của USD sẽ dần hạn chế hơn. Đặc biệt chú ý đến đồng Euro và JPY vì châu Âu là một thị trường lớn, và Nhật Bản có hệ thống tín dụng, ngân hàng hàng đầu thế giới.
Đồng thời, Nhà nước nên có chính sách khuyến khích các công ty XNK đa dạng hoá cơ cấu tiền tệ trong giao dịch thưng mại quốc tế để nâng cao sự cân đối cung, cầu ngoại tệ, qua đó góp phần đa dạng hóa tiền tệ của nền kinh tế một cách cân đối hơn.
7. Tạo điều kiện để đồng Việt Nam có thể chuyển đổi được.
Ngày nay, một đồng tiền được coi là có khả năng chuyển đổi khi mà bất cứ ai có đồng tiền đó đều có thể tự do chuyển đổi sang một trong những đồng tiền đóng vai trò dự trữ quốc tế chủ yếu như USD, GBP, euro… theo tỷ giá thị trường.
Nếu cứ tiếp tục như tình hình hiện nay thì nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục chịu thiệt hại do những bất lợi trong thanh toán quốc tế gây ra. Việc phấn đấu cho đồng Việt Nam chuyển đổi được từng phần đặt ra nhiều đòi hỏi cho nền kinh tế, trong đó việc kiềm chế lạm phát là một yêu cầu bức thiết. Ngoài ra, mức dự trữ ngoại hối cũng cần phải được củng cố và tăng cường để ngân hàng nhà nước có đủ tiềm lực can thiệp vào thị trường ngoại hối ngăn chặn các cú sốc bất lợi tác động đến nền kinh tế. Để tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho tiền Việt Nam tham gia hoạt động thanh toán quốc tế. Làm được điều này sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam dễ dàng thâm nhập vào thị trường thế giới.
8. Phối hợp đồng bộ chính sách tỷ giá với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế, cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.
Cần duy trì chính sách tài khoá thận trọng và tiến hành điều chỉnh các chính sách thuế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đàm phán ra nhập WTO, chính phủ cần cắt giảm thuế quan, giảm thiểu và tiến tới xoá bỏ những hàng rào phi thuế quan đang cản trở các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Trong chính sách chi tiêu cần phải có các ưu tiên hợp lý hơn trong chi tiêu, loại bỏ những khoản chi không cần thiết, tăng tỉ lệ chi đầu tư xây dựng cơ bản và có biện pháp hạn chế thất thoát lãng phí. Đảm bảo thâm hụt ngân sách trong phạm vi có thể quản lý được, tức là ở mức có thể bù đắp được mà không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên chính sách tài khóa không nên thắt chặt quá mức vì điều này sẽ gây tổn hại tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Bên cạnh đó, chúng ta cần tiến hành chuyển đổi các công cụ của chính sách tiền tệ từ trực tiếp hiện nay sang gián tiếp nhằm điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, hiệu quả hơn và ít gây tiêu cực đối với nền kinh tế. Hơn nữa, khi thị trường tiền tệ phát triển, giá cả trên thị trường (lãi suất, tỷ giá …) được hình thành theo quan hệ cung cầu, các nguồn vốn được phân bổ hiệu quả, thị trường không bị chia cắt sẽ tránh được tình trạng mất cân bằng kinh tế vĩ mô. từ đó tăng tính hiệu quả của việc điều hành chính sách tiền tệ.
Như vậy, việc hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái cần phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp, không chỉ từ hướng NHTW. Tuỳ theo điều kiện thực tế để lựa chọn công cụ, hay biện pháp phù hợp, nhằm thực hiện một chính sách tỷ giá theo xu hướng chung và đem lại hiệu quả tốt nhất.
Trong điều kiện thâm hụt thương mại đang rất lớn, việc nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái cần được cân nhắc thận trọng, tránh để VND tăng giá quá mức vì điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu nhưng lại kích thích nhập khẩu.
Mặt khác, cũng cần thấy rằng khi thắt chặt tiền tệ thì lãi suất VND sẽ tăng và do đó, VND sẽ tăng giá. Chỉ nên xem biên độ tỷ giá hối đoái là khung điều hành của NHNN, và là dấu hiệu can thiệp của NHNN đối với thị trường hối đoái. Đồng thời, cần cho phép tất cả các NHTM mua- bán ngoại tệ tự do theo nhu cầu kinh doanh như mô hình thí điểm tại EXIMBANK hiện nay;
Có thể nghiên cứu áp dụng chính sách “tỷ giá kép”, tức là tỷ giá áp dụng cho hoạt động xuất- nhập khẩu khác với tỷ giá áp dụng cho đầu tư gián tiếp: Tỷ giá cho xuất- nhập khẩu cao để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; Tỷ giá cho đầu tư gián tiếp thấp, tức là một hình thức đánh thêm thuế chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu chính phủ Mỹ với trái phiếu chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế đầu cơ ngắn hạn.
Xem thêm các bài viết gần đây nhất:
|
|